Đánh giá tác dụng giảm đau của châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ để phẫu thuật

Email In PDF.

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA CHÂM TÊ KẾT HỢP THUỐC HỖ TRỢ ĐỂ PHẪU THUẬT VÙNG BẸN - BÌU                                             

PGS.TS. Nghiêm Hữu Thành - Bệnh viện châm cứu TW    

Tóm tắt              

Qua nghiên cứu 76 bệnh nhân được phẫu thuật để điều trị các bệnh thoát vị bẹn, u thừng tinh, ứ nước màng tinh hoàn, tinh hoàn lạc chỗ thuộc vị trí vùng bẹn – bìu ở nam giới tại Bệnh viện châm cứu Trung ương từ 5 /1999 đến 4 / 2009 cho thấy bệnh gặp nhiều nhất là TV bẹn (75 – 77,8%) thấp nhất là tinh hoàn lạc chỗ ( 5 - 5,6%). Kết quả vô cảm của nhóm bệnh nhân được mổ với vô cảm châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ có tỷ lệ sau: Mức vô cảm loại A (tốt) là 70%, loại B (khá) là 25%, loại C là 5%, loại D (không đạt) là 0%. Các chỉ số sinh học như mạch, HA của bệnh nhân có xu hướng tăng lên trong quá trình châm tê để mổ, sau đó trở về gần bình thường sau khi mổ xong. Ngưỡng cảm giác đau của bệnh nhân tăng cao hơn so với trước khi châm tê với hệ số giảm đau K = 1,954. Không có tai biến nào xảy ra trong quá trình châm tê để mổ. 

Summary:  

ĐẶT VẤN ĐỀ        

Trong những thập niên gần đây, từ những năm 1958 các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới khẳng định châm tê là một phương pháp vô cảm trong phẫu thuật để điệu trị cho một số bệnh [2] [7], bên cạnh một số phương pháp vô cảm khác như: gây mê, tê vùng, tê tủy sống... Tại Bệnh viện châm cứu Trung ương đã thực hiện thành công cho hơn 4000 ca mổ với vô cảm bằng châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ, trong đó châm tê kết hợp thuốc để mổ cho bệnh nhân (thoát vị bẹn, u thừng tinh, ứ nước màng tinh hoàn, tinh hoàn lạc chỗ) có vị trí thuộc vùng bẹn – bìu cho kết quả khả quan. Tuy nhiên phẫu thuật vùng bẹn – bìu với vô cảm bằng gây tê tủy sống có kết quả tốt, song cũng có một số ít những hạn chế như bệnh nhân hay đau đầu, buồn nôn, HA tụt, mạch chậm, đau lưng, đặc biệt có bệnh nhân dị ứng với thuốc gây tê hoặc BN bị bệnh về cột sống. Nhằm hạn chế phần nào những tai biến không mong muốn ở trên chúng tôi nghiên cứu đề tài:“Đánh giá tác dụng giảm đau của châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật vùng bẹn – bìu” Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

  1. Đối tượng nghiên cứu

         76 bệnh nhân nam giới có độ tuổi từ 16 tuổi trở lên được xác định mắc bệnh ở vùng bẹn – bìu bao gồm: thoát vị bẹn, u thừng tinh, tinh hoàn lạc chỗ, ứ nước màng tinh hoàn, đối tượng nghiên cứu được chia làm 2 nhóm-  nhóm nghiên cứu:  40 bệnh nhân được mổ vùng bẹn – bìu với vô cảm bằng châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ-  nhóm  chứng: 36 bệnh nhân được mổ vùng bẹn -  bìu với vô cảm bằng gây tê tủy sống      loại khỏi nghiên cứu bệnh nhân mắc bệnh huyết áp cao ( HA tối đa không vượt quá 160 mmHg), động kinh, dị dạng cột sống đối với nhóm TTS, và bệnh nhân phải mổ cấp cứu.2, Phương pháp nghiên cứu2.1. Với nhóm châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ: - Chọn các huyệt để châm tê: dựa theo lý luận của y học phương đông “ kinh lạc sở quá chủ trị sở cập” nghĩa là kinh lạc đi qua vùng nào thì có tác dụng chữ bệnh tại vùng đó. Về tây Y dựa theo phân vùng giải phẫu thần kinh chi phối cảm giácv vận động vùng bẹn -  bìu.    Từ đó chúng tôi chọn phác đồ huyệt để châm tê như sau: huyệt Tam âm giaoTúc tam lý, Âm liêm xuyên Huyết hải, huyệt Giáp tích L2, L4, huyệt Thứ liêu.và huyệt  đường mổ.       Kỹ thuật kích thích huyệt: sử dụng máy điện châm M7, do Bệnh viện Châm cứu TW sản xuất, mắc kim vào máy theo các cặp huyêt tương ứng, cường độ kích thích tăng dần từ 0 - 150 µA, tần số kích thích từ 5 – 50Hz, thời gian kích thích trước mổ từ 20 – 30 phút và duy trì cho tới khi cuộc mổ kết thúc     Xác định ngưỡng đau của bệnh nhân trước và sau điện châm 30 phút: Ngưỡng cảm giác đau được xác định trên thang máy đo ngưỡng đau (Analgesy – meter do Italia sản xuất) và tính bằng gram/giây. Hệ số giảm đau (K) tính bằng cách lấy mức cảm giác đau sau (Đs) chia cho mức cảm giác đau trước (Đt) khi điện châm. K = Đs/ Đt     Thuốc hỗ trợ: Atropin sunphat 0,05mg/ kg thể trọng                           Seduxen 0,2mg / kg thể trọng, tiêm TM                           Morphin 0,2mg/kg thể trọng, tiêm TM trước khi rạch da2.2.Với nhóm được vô cảm bằng gây tê tủy sống      Bệnh nhân được tiền mê: Atropin Sunphát 0,05mg/ kg thể trọng; Seduxen 0,02mg/kg thể trọng, tiêm tĩnh mạch trước khi gây tê 5 phút. Chúng tôi sử dụng phương pháp gây tê tủy sống bằng Bupivacain 0,05% liều 0,25mg/ kg thể trọng, vị trí gây tê khe đốt L2 – L3 hoặc L3 – L4 đường giữa cột sống2.3.các chỉ tiêu nghiên cứu: - Sự phân bố đối tượng mắc bệnh vùng bẹn bìu ở đối tượng nghiên cứu. - Các chỉ số sinh học như mạch, HA đựơc theo dõi bằng máy Monitoring hãng Datascop do Mỹ sản xuất. - Sự biến đổi ngưỡng đau của bệnh nhân sau khi châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ so với trước khi châm tê. - Đánh giá mức vô cảm của bệnh nhân được mổ theo tiêu chuẩn của các tác giả Việt Nam ( Nguyễn Tài Thu) [ 7]   Loại A (tốt) bệnh nhân nằm yên không thấy đau hoặc thấy hơi tức nhưng chịu được, không phản ứng bằng kêu đau hoặc cử động, HA động mach, mạch bình thường hoặc hơi tăng không đáng kể, phẫu thuật được tiến hành thuận lợi. Loại B (khá): Người bệnh có lúc phản ứng bằng cử động, có thể đau nhẹ ở một số thì mổ nhưng vẫn nằm yên. Phẫu thuật vẫn tiến hành an toàn. Loại C (trung bình): Người bệnh thấy có lúc đau nhẹ, có lúc đau đến mức khó chịu, đòi hỏi phải dùng thêm liều thuốc tiền mê hoặc giảm đau nhưng phẫu thuât vẫn hoàn thành được. Loại D (không đạt yêu cầu): Người bệnh kêu đau nhiều, không chịu nổi, giẫy giụa, phải chuyển phương pháp vô cảm khác.2.4. Phân chia các thì trong phẫu thuật vùng bẹn- bìu  - Thì 1: Rạch da bộc lộ: khối thoát vị (TV bẹn), Khối u thừng tinh ( u thừng tinh), Khối nước màng tinh hoàn (ứ nước màng tinh hoàn), tinh hoàn ( tinh hoàn lạc chỗ).- Thì 2: Bóc tách: gỡ dính đẩy các thành phần trong khối TV lên ổ bụng và cắt bao TV ( TV bẹn), phẫu tích khối u thừng tinh ( U TT), giải phóng khối nước màng tinh hoàn (ư nước MTH), phẫu tích kéo dài thừng tinh và bó mạch thừng tinh ( THLC).- Thì 3: Khâu cân cố định: Khâu gân kết hợp với cung đùi (TV bẹn), cắt và khâu cầm máu u thưng tinh ( UTT), lộn bao màng tinh hoàn và khâu cầm máu (ứ nước MTH), đưa tinh hoàn xuống ổ bìu và khâu cố định ( THLC).- Thì 4: Khâu da.  2.5.Phương pháp sử lý số liệu thống kê: Sử lý số liệu nghiên cứu bằng phương pháp thống kê dùng trong y – sinh học. Kết quả nghiên cứu và bàn luận Bảng 1: Sự phân bố đối tượng bệnh nhân ở nhóm NC và nhóm ĐC 

      Tên bệnh chỉ số thống kêTV bẹnứ nướcMTHU thừng tinhT. hoàn lạc chỗTổng cộng
Nhón n. cứu             n = 40n3026240
%755155100
Nhóm chứngn = 36n2824236
%77,85.6115,6100

      Qua kết quả ở bảng 1 cho thấy, ở cả nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng tỷ lệ bệnh vùng bẹn bìu ở nam giới gặp nhiều nhất là thoát vị bẹn ( 75% - 77,8%), ít gặp nhất là tinh hoàn lạc chỗ năm trong ống bẹn( 5% - 5,6%), tỉ lệ mắc bệnh của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng là tương đương nhau. Phân loại bệnh ở 2 nhóm NC và nóm ĐC không có sự khác biệt có y nghĩa thống kê (p>0,05)Bảng 2. Kết quả vô cảm của nhóm NC và nhóm ĐC 

Nhóm bệnh nhânKết quả vô cảm
ABCD
Nhóm n. cứun = 40n281020
%702550
Nhóm đối chứngn = 36n26640
%7216,711,3100

 Kết quả vô cảm loại A nhóm ĐC cao hơn nhóm NC ( 72% và 70%)Kết quả vô cảm loại B của nhóm ĐC thấp hơn nhóm NC (16,7% và 25%)Kết quả vô cảm loại C của nhóm ĐC cao hơn nhóm NC (11,3% và 5%)Cả 2 nhóm đều không có kết quả vô cảm loại D.       Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p >0,05.    Kết quả vô cảm của châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật vùng bẹn bìu ở nam giới có tỷ lệ thành công là 100%, không có trường hợp nào phải chuyển phương pháp vô cảm khác.Bảng 3: Kết quả vô cảm ở các thì phẫu thuật của nhóm NC và nhóm ĐC  

Các thì mổsố lượng bệnh nhân và tỷ lệKết quả vô cảm
ABCD
Nhóm NCNhóm ĐCNhóm NCNhóm ĐCNhóm NCNhóm ĐCNhóm NCNhóm ĐC
Rạch danc:n=40 đc:n=363232840000
 %8088,92011,10000
Bóc táchnc:n=40 đc:n=36282612100000
 %707230280000
Khâu cânnc:n=40 đc:n=3624241482400
 %6066,73522511,300
Khâu danc:n=40 đc:n=363426660400
 %8572,21516,7011,100

     Kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy ở cả 2 nhóm thì mức vô cảm loại A cao nhất ở tất cả các thì mổ ( dạch da 80% và 88,9%, bóc tách 70% và 72%, khâu cân 60% và 66,7%, khâu da 85% và 72,2%).      Kết quả nghiên cứu ở bảng 3 cho thấy, ở các thì phẫu thuật khác nhau kết quả vô cảm cũng khác nhau, ở cả 2 nhóm thì mức vô cảm tốt nhất ở thì rạch da và thì khâu da ( A nhóm NC là 80% và 85%, A nhóm ĐC là 88,9% và 72,2%). Kém nhất ở thì khâu cân ( A nhóm NC là 60%, của nhóm ĐC là 66,7%), tuy nhiên mức vô cảm đạt loại A cho ta thấy sự khác nhau không đáng kể của 2 nhóm NC và nhóm ĐC ở các thì rạch da, khâu da và khâu cân. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.     Xét thấy mức vô cảm loại B của nhóm nghiên cứu lớn hơn nhóm ĐC hầu hết ở tất cả các thì phẫu thuật. ngược lại mức vô cảm đạt loại C ở nhóm ĐC lại cao hơn nhóm NC, đặt biệt cao hơn ở thì khâu cân và khâu da (loại C thì khâu cân là 11,3% của nhóm ĐC và 5% của nhóm NC, loại C thì khâu da là 11,1% của nhóm ĐC và 0% của nhóm NC). Tuy nhiên ở nhóm ĐC có 4 bệnh nhân, trong đó có 2 bệnh nhân bị thoát vị bẹn tái phát do mổ ở cơ sở y tế khác và 2 bệnh nhân bị thoát vị lớn ở người già ( 75 tuổi) nên thời gian mổ kéo dài hơn 120 phút, ở nhóm NC có 1 trường hợp thoát vị bẹn tái phát, 2 bệnh nhân thoát vị lớn ở người già thành bụng quá yếu, 1 trường hợp tinh hoàn lạc chỗ gần lỗ bẹn sâu nên thời gian mổ lâu hơn 120 phút, phẫu tích kéo dài thừng tinh và bó mạch thừng tinh khó khăn. Tỷ lệ đạt mức vô cảm loại C có khác nhau  ở 2 nhóm trên cũng được giải thích một cách rõ ràng, khi thời gian mổ kéo dài hơn 90 phút thì tác dụng vô cảm ở phương pháp gây tê tủy sống sẽ giản dần, còn phương pháp châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ thì mức độ vô cảm không phụ thuộc nhiều vào thời gian mổ, điều này cũng trùng hợp với nhận xét của tác giả Nguyễn Tài Thu [ 7], Nguyễn Bá Quang [ 4 ]. 4.chỉ số biến đổi sinh học:  Bảng 4: Sự biến đổi của mạch ở nhóm NC và nhóm ĐC   

            thời điểmNhómTrước mổ (1)                            l / phTrong mổ (2)            l / phSau mổ (3)            l / ph 
NC72,25 ± 8,98488,85 ± 10,67679,85 ± 8,997
P1-2  < 0,001P1-3 < 0,001
ĐC74,611 ± 8,86279,19 ± 10,24576,5 ± 9,284
P1-2  < 0,05P1-3  > 0,05
    Bảng 5:. Sự biến đổi của huyết áp động mạch của 2 nhóm NC và nhóm ĐC 
                   Thời điểm    Nhóm       Trước mổ (1)mm HgTrong mổ (2)mmHgSau mổ (3)mmHg 
NCTối đa121,75 ± 11,068139  ± 14,286126,5 ± 11,668
P1-2  < 0,001P1-3 < 0,05
Tối thiểu74,225 ± 8,11382  ± 6,07678  ±  5,164
P1-2  <0,001P1-3 < 0,01
ĐCTối đa122,778 ± 9,445125,556 ±19,445123,333 ± 13,939
P1-2 > 0,05P1-3 >0,05
Tối thiểu78,889 ± 4,64677,222 ±  8,81977,222 ± 6,595
P1-2  > 0,05P1-3  > 0,05

          Các kết quả được trình bầy từ bảng 4 – 5 cho thấy mạch, huyết áp của các bệnh nhân đều có thay đổi so với thời gian trước phẫu thuật, sự thay đổi ở nhóm NC lớn hơn và có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. tuy nhiên sư thay đổi này đều trong phạm vi cho phép, không trường hợp nào phải can thiệp bằng thuốc cũng như các phương tiện hồi sức khác. Sự thay đổi của mạch, HA ở nhóm NC theo hướng tăng lên phù hợp với nhận xét của nhiều tác giả châm tê khác như Nghuyễn Tài Thu [7], Nguyễn Bá Quang [4], Nguyễn Thái Sơn [5]    So sánh với nhóm được vô cảm băng gây tê tủy sống, chúng tôi thấy các chỉ số này ít thay đổi, chỉ có vài trường hợp chỉ số này giảm do tác dụng phụ của thuốc, sự thay đổi các chỉ số này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Bảng 6: Sự biến đổi ngưỡng đau của BN đựơc châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ 

    thời điểm       Giá trịNgưỡng đau (gr /s)Hệ số K
Trước điện châmSau điện châm 
X  ± SD268,75  ± 53,035525,40 ± 81,9911,954
Min - Max187 - 372391 - 703 

     Theo kết quả ở bảng 6, mức thay đổi ngưỡng đau trước và sau châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ có hệ số K = 1,954. Theo ý kiến của môt số tác giả Việt Nam: Nguyễn Tài Thu [7], Nguyễn Đức Thiềng [6], Nguyễn Bá Quang [4], Trương Việt Bình [1], Phạm Quang Minh [3], khi ngưỡng cảm giác đau tăng cao tương đương ( K = 2) thì phẫu thuật diễn ra an toàn và thuận lợi. Kết luận

  1. qua 76 trường hợp được mổ các bệnh vùng bẹn -  bìu của nam giới lớn hơn 16 tuổi ( TV bẹn, u thừng tinh, ứ nước màng tinh hoàn, tinh hoàn lạc chỗ) thì tỷ lệ mắc bệnh thoát vị bẹn là cao nhất (75 – 77,8%) tháp nhất là tinh hoàn lạc chỗ (5 – 5,6%).
  2. Kết quả vô cảm trong phẫu thuật vùng bẹn - bìu dưới điều kiện châm tê kết hợp thuốc hỗ trợcho kết quả loại A (tốt) là 70%, loại B (khá) là 25%, loại C (trung bình) là 5% và không có loại D (không đạt). Không có tai biến trong nhóm nghiên cứu.
  3. Các chỉ số sinh lý mạch, HA của bệnh nhân được mổ vùng bẹn -  bìu với vô cảm bằng châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ dao động trong phạm vi cho phép. So sánh với các trường hợp phẫu thuật với vô cảm bằng gây tê tủy sống, sự biến đổi các chỉ số này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
  4. Điện châm kết hợp thuốc hỗ trợ có tác dụng làm tăng ngưỡng đau cao hơn so với trước khi châm tê. Hệ số giảm đau trung bình K = 1,954
 Tài liệu tham khảo
  1. Trương Việt Bình (1997)
     Biến động ngưỡng đau trong châm tê, tạp chí châm cứu số 24, tr 17 – 21
  1. Đặng Ngọc Hùng, Nguyễn Mỹ, Trần Tử Bình (1994)
 Phẫu thuật bướu giáp độ 4, độ 5 dưới vô cảm bằng châm tê, Y học Quân sự, tr. 45
  1. Phạm Quang minh (1997)

     Nghiên cứu ứng dụng điện thời châm kết hợp thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật bướu tuyến giáp và tiểu thể cảnh, tóm tắt luận án PTS khoa học y dược, Hà Nội

  1. Nguyễn Bá Quang (2000)

Nghiên cứu tác dụng châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật bướu tuyến giáp, luận án Tiến sĩ y học – Hà Nội

  1. Nguyễn Thái Sơn (2002)

Nghiên cứu tác dụng vô cảm của điện châm kết hợp thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật lấy sỏi niệu quản và sỏi bàng quang, luận văn thạc sỹ y học – Hà Nội

  1. Nguyễn Đức Thiềng (1996)

  Châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức để điều trị nhược cơ,  luận án Phó tiến sĩ khoa học Y dược học Học viện Quân y

  1. Nguyễn Tài Thu (3/ 1991)
  Châm tê trong phẫu thuật, tạp chí châm cứu Việt Nam số 3, tr 7 - 10  
 

Giới thiệu

Nghiên Cứu Khoa Học

Joomla Slide Menu by DART Creations

Hợp tác quốc tế

Hỗ trợ trực tuyến


CN Ước


Liên kết Website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay277
mod_vvisit_counterHôm qua982
mod_vvisit_counterTuần này2188
mod_vvisit_counterTuần trước5138
mod_vvisit_counterTháng này12868
mod_vvisit_counterTháng trước25071
mod_vvisit_counterTất cả3344895


32 guests online

Video Clip



Get the Flash Player to see this player.

Khoa - Phòng

Joomla Slide Menu by DART Creations

Đào tạo

Bình chọn

Bạn thường chữa bệnh theo phương pháp nào?
 

phim hay tai facebook phu nu tin game game moi yeu game game tin game suc khoe kenh game cay game tin game hay game8 bao game dai ca game game thu kho game the gioi game tin tuc suc khoe hang ngay game thoi trang game dua xe game ban sung doc tin tuc game hay choi game